KỸ THUẬT NUÔI TÔM 3 GIAI ĐOẠN GIÚP TĂNG NĂNG SUẤT

KỸ THUẬT NUÔI TÔM 3 GIAI ĐOẠN GIÚP TĂNG NĂNG SUẤT, GIẢM ẢNH HƯỞNG MÔI TRƯỜNG

Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu phức tạp ảnh hưởng trực tiếp đến nghề nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi tôm nói riêng. Môi trường bị ô nhiễm, dịch bệnh luôn thường trực và có nguy cơ bùng phát cao.

Mặt khác, giá cả thị trường bất ổn với chu kỳ “mất mùa được giá, được mùa mất giá” liên tục diễn ra. Chi phí vật tư đầu vào như giống, thức ăn cũng tăng từng ngày, ảnh hưởng lớn đến thu nhập người nông dân.

Vì vậy, việc tìm ra giải pháp nuôi hiệu quả là rất cần thiết. Cần cải tiến kỹ thuật để giảm thiểu dịch bệnh, giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất, nâng cao chất lượng tôm thương phẩm và thu nhập.

Để giúp bà con giảm thiểu rủi ro và tăng hiệu quả kinh tế, chúng tôi xin giới thiệu kỹ thuật nuôi tôm 3 giai đoạn. Giải pháp này giúp tăng năng suất và giảm ảnh hưởng tiêu cực của môi trường.

Kỹ thuật nuôi tôm 3 giai đoạn
Kỹ thuật nuôi tôm 3 giai đoạn

Bố trí hệ thống ao nuôi

Hệ thống nuôi được đảm bảo có hệ thống xử lý nước đầu vào, ao cấp sẵn sàng, ao gièo, ao nuôi, hệ thống sục khí và ao chất thải được bố trí hợp lý.
Diện tích các ao nuôi ở hệ thống:
STT Hạng mục Tỉ lệ diện tích so với tổng diện tích nuôi (%) Diện tích tham khảo thiết kế (m²)
1 Ao gièo 1 – 2 % 150 – 200
2 Ao nuôi giai đoạn 2 10 – 12 % 600 – 1000
3 Ao nuôi giai đoạn 3 20 – 25 % 1000 – 2000
4 Ao xử lý nước + ao sẵn sàng 40 – 50 % 5000 – 6000
5 Công trình phụ trợ (nhà ở, kho…) 2 – 4 % 400 – 500
6 Ao chứa chất thải 8 – 10 % 1000 – 1200

Giai đoạn 1

Tôm được ương gièo trong ao có diện tích khoảng 150 – 200 m², hình tròn hoặc vuông, có mái che, được lót bạt HDPE toàn bộ. Hệ thống sục khí được bố trí dàn đều quanh ao (2m²/ vỉ khí). Đây là giai đoạn giúp hạn chế được biến động của môi trường do thời tiết, tạo thuận lợi cho việc chăm sóc, quản lý sức khỏe của con tôm, giảm tỉ lệ hao hụt và tăng tỉ lệ sống. Ao ương gièo có diện tích nhỏ giúp giảm chi phí nuôi (điện, nước, thức ăn kiểm soát tốt…). Giai đoạn này tôm có thể đạt kích thước từ 1 – 2g/con. Khi sang qua giai đoạn 2 chúng ta có thể kiểm tra tỉ lệ sống của tôm nhằm tính toán lượng thức ăn hợp lý cho giai đoạn 2.

Giai đoạn 2

Tôm sau khi ương gièo ở giai đoạn 1 sẽ chuyển qua các ao ở giai đoạn 2 có diện tích từ 600-1000 m² bằng đường ống sang tôm. Ao có hình tròn hoặc hình vuông, lót bạt HDPE toàn bộ và có mái che bằng lưới lan, độ ngập nước trong ao từ 1.2 – 1.5m. Hệ thống sục khí được rải đều quanh ao (3m²/ vỉ khí), không rải ở khu vực rốn. Hệ thống quạt ở ao từ 2 – 4 dàn tùy độ gom chất thải của ao và hiệu suất cung cấp oxi ở mỗi dàn quạt. Sau khi ương gièo, tôm vẫn còn nhỏ nhưng cần được môi trường lớn hơn, môi trường nước sạch hơn, cùng với đó là có nguồn thức ăn đầy đủ hơn giúp tôm nhanh phát triển.

Giai đoạn 3

Ở giai đoạn này, tôm đã phát triển lớn và cần không gian rộng hơn. Diện tích ao nuôi từ 1.000 – 2.000 m². Ao được lót bạt HDPE và có lưới lan để che nắng.

Hệ thống sục khí và bố trí quạt tương tự như giai đoạn 2. Có thể giảm mật độ vỉ khí xuống 5 m²/vỉ khí để tiết kiệm chi phí. Mật độ nuôi trong giai đoạn này dao động từ 150 – 250 con/m².

Một số lưu ý khi bố trí ao:

  • Ao sẵn sàng nên bố trí 1 dàn quạt để đảo nước tốt, tránh nước bị tù.

  • Hệ thống hố xiphong cần bố trí lõm sâu giữa ao để gom chất thải hiệu quả.

  • Ao thải có thể tận dụng mặt nước để nuôi các loài cá ăn tạp như rô phi, cá đối, nhằm tăng nguồn thu và xử lý nước.

Quy trình nuôi:

Vấn đề xử lý nước đầu vào luôn được đặt lên hàng đầu nhằm hạn chế nguồn nước ô nhiễm gây bệnh cho tôm. Mục tiêu là đảm bảo luôn có nước sạch cung cấp suốt vụ nuôi.

Nước được bơm qua túi lọc có kích thước từ 25 – 50µm. Sau đó, nước qua hệ thống đường ziczac với hệ thống nhỏ giọt các hóa chất diệt khuẩn như KMnO4, TCCA.

Tiếp theo, trên đường ziczac này có hệ thống sục khí để loại bỏ hóa chất diệt khuẩn còn tồn dư trong nước. Phần cuối của đường ziczac được bố trí hệ thống giá thể nhằm loại bỏ chất rắn lơ lửng trong nước tốt hơn. Lưu ý, cần vệ sinh giá thể thường xuyên.

Nước ở hai ao sẵn sàng được sử dụng luân phiên để đạt hiệu quả lắng tối đa.

Chăm sóc ao ương

Trước hết, bà con cần chọn giống chất lượng, khỏe mạnh, có nguồn gốc tôm bố mẹ rõ ràng và quy trình sản xuất tốt. Nên chọn các cơ sở giống uy tín. Mật độ thả trong ao gièo là từ 2-3 con/lít.

Nước trong ao gièo được kiểm tra các chỉ số môi trường và tiến hành gây floc. Bà con có thể sử dụng nhiều loại vi sinh khác nhau theo hướng dẫn nhà sản xuất. Hoặc áp dụng công thức sau: 180 lít nước sạch + 2 kg cám gạo + 2 kg thức ăn số 0 + 5 kg mật đường + 1 kg muối ăn + 0,5 kg chế phẩm sinh học (gồm Bacillus licheniformis, Bacillus megaterium, Bacillus polymyxa với nồng độ 10⁸ CFU/kg). Sục khí sau 48 giờ rồi cho xuống ao, đánh liên tục hàng ngày để tạo floc.

Floc rất quan trọng vì cung cấp thức ăn sẵn cho tôm và giúp ổn định môi trường ao, hạn chế phát triển khí độc trong ao gièo.

Lượng thức ăn được tính dựa trên trọng lượng và số lượng tôm post khi thả. Trung bình là 1,5-2 kg/500.000 post/ngày đầu tiên. Lượng thức ăn tăng trung bình 20-25% mỗi ngày tùy sức ăn của tôm. Cho ăn 7 lần/ngày trong tuần đầu, giảm xuống 6 lần/ngày tuần thứ 2 và 5 lần/ngày tuần thứ 3 và 4.

Bổ sung khoáng và vi sinh để duy trì floc. Kiểm tra chất lượng floc và sức khỏe tôm hàng ngày để xử lý kịp thời. Ghi chép đầy đủ vào nhật ký nuôi.

Sau 20-25 ngày, khi tôm đạt trọng lượng từ 1000-2000 con/kg, tiến hành chuyển sang ao giai đoạn 2.

Ao nuôi giai đoạn 2

Khi thời gian nuôi giai đoạn ương từ 15 ngày thì chúng ta tiến hành lấy nước vào ao nuôi giai đoạn 2 cho tiến hành chạy quạt và gầy floc trong ao. Phương pháp gầy floc như gầy ở giai đoạn ao ương nhưng số lượng lớn hơn phù hợp với ao nuôi.
Trước khi sang tôm cần kiểm tra các chỉ số môi trường ở ao nuôi, sau đó xả bớt dần đến 50% nước trong ao gièo và bơm nước từ ao nuôi giai đoạn 2 vào ao gièo để thuần tôm, sau đó tiến hành sang tôm.
Trong giai đoạn này lượng thức ăn tính toán được dựa vào trọng lượng tôm theo bảng sau:
Bảng 1: Cho ăn dựa vào trọng lượng tôm.
Trọng lượng tôm (g) Lượng thức ăn (%)
2 9.5
3 5.8
5 5.3
7 4.1
10 3.3
12 3
15 2.6
20 2.1
25 1.5
30 1.3
Mật độ nuôi có thể đạt từ 400-600 con/m². Sau khoảng thời gian nuôi từ 25-35 ngày thì tôm có thể đạt kích thước từ 100-130 con/kg thì ta tiến hành sang ao giai đoạn 3. Giai đoạn này tôm phát triển nhanh nên việc chuyển số thức ăn để phù hợp với kích thước tôm rất quan trọng, tránh hiện tượng phân đàn. Vì vậy cần kiểm tra chất lượng nước, thức ăn dư thừa hay thiếu, sức khỏe tôm thường xuyên để điều chỉnh kịp thời. Lượng nước thay trong giai đoạn này từ 20-25%.

Ao nuôi giai đoạn 3

Sau khi nuôi giai đoạn 2, khi tôm đạt trọng lượng từ 6-8g, tiến hành chuyển sang ao nuôi giai đoạn 3. Trình tự lấy nước và gây floc tương tự giai đoạn 2.

Trong giai đoạn này, lượng vi sinh được đánh tùy theo môi trường nước ao nuôi, không theo liệu trình lý thuyết để hạn chế chi phí. Lượng nước thay đảm bảo từ 20-25%. Thức ăn được tính theo bảng 1 và điều chỉnh phù hợp với sức ăn thực tế của tôm.

Một số lưu ý khi chăm sóc và cho tôm ăn:

  • Thời tiết nắng nóng hoặc mưa dông đột ngột nên hạn chế cho ăn. Tập trung cho ăn khi thời tiết ổn định hơn.

  • Bổ sung vitamin và khoáng vào buổi sáng. Men vi sinh đường ruột được thêm vào thức ăn buổi chiều và tối để giúp tôm phát triển và tăng sức đề kháng.

  • Đảm bảo oxy hòa tan luôn trên 5mg/l.

  • Xiphong sạch sau bữa ăn để hạn chế vi khuẩn gây hại và khí độc.

  • Nước xiphong được đưa vào ao chứa chất thải và tận dụng để nuôi cá dìa, cá đối, rôphi đơn tính… Sau đó, nước được thải ra ngoài hoặc tái sử dụng.

Hiệu quả có thể đạt được

Bà con có thể xoay vòng từ 4-5 vụ nuôi mỗi năm. Diện tích nhỏ giúp dễ quản lý, đầu tư chi phí ít hơn nhưng vẫn đảm bảo năng suất ổn định.

Giai đoạn 1 giúp giảm chi phí trong tháng nuôi đầu tiên. Trong giai đoạn ương, tôm được nuôi ở ao nhỏ nên dễ kiểm soát lượng thức ăn. Lượng thức ăn trong giai đoạn này thấp hơn khoảng 30% so với quy trình nuôi 1 giai đoạn trong 30 ngày đầu.

Ngoài ra, kỹ thuật nuôi tôm 3 giai đoạn giúp giảm rủi ro do tác động môi trường và nhiệt độ. Môi trường nuôi được làm mới và xử lý chủ động hơn, từ đó nâng cao hiệu quả nuôi.

Quá trình nuôi sử dụng men vi sinh, không dùng hóa chất hay kháng sinh để kiểm soát môi trường. Nhờ vậy, chất lượng tôm nuôi được đảm bảo, đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng và xuất khẩu.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *